Giọng Cường thật nhẹ: “Nó nè anh Ba…”
Gia đình từ gần 10 sào ruộng, giờ chỉ còn cái nền nhỏ. Tôi đi kiếm, may mà gặp anh Đạt ở một cái chợ nhỏ bên Bình Dương…”. Thủy được bà Năm cho học nghề may… Năm 1992, bỗng dưng cô thợ may Thủy bắt đầu ngồi ngẩn ngơ, cười một mình, nói một mình.
Từ đó tới nay, khi em gái hành kinh, Cường phải tự tay vệ sinh cho em từ đầu đến cuối. Mà tôi cũng thấy ở nhà tốt hơn bệnh viện, các bác sĩ vẫn khuyên để người bệnh gần gụi gia đình”. Người đàn ông trong mùng thò đầu ra, mắt long lên giận dữ, quát: “Đi!”.
Cường lay: “Anh Đạt ơi, dậy đi, nhà mình có khách…”. Nhưng nét nhóc con ấy lập tức biến mất, Cường tất bật vào giường anh Đạt vì anh này đang la: “Ai lấy mất dép tao!” dù đôi dép nằm ràng ràng dưới đất. Anh kể: “Anh của tôi trước cao to, đẹp trai, nhưng lúc gặp trước chợ Văn Thánh (TP.
Xót con, bà Năm vái tứ chiếng. Lâm làm du kích xã, Đạt có nghề sửa máy, Cường làm thuê cho trang trại cao su gần nhà.
Cường năn nỉ anh Đạt đừng đuổi khách về “ĐỠ GÁNH” TỪ VAI MẸ Cả ba bệnh nhân được vào viện điều trị, anh Cường và bà Năm luân phiên nhau thăm nuôi. Chị Lê Thị Kim Tuyến nói: “Quả là kỳ diệu, sau hơn 18 năm không tự mặc nổi quần áo, thiên nhiên sau khi mẹ mất, anh Lâm biết nấu cơm”.
Được sự hy sinh, vun quén của mẹ, các con lớn lên ai cũng có nghề tử tế. Anh Lâm vui với trò nấu cơm hàng ngày KHỔ VÌ… LÀ NGƯỜI TỈNH! Xong ca sáng, vừa về đến nhà, anh Cường vội vào bếp, hỏi: “Anh Hai ơi, cơm nấu chưa?”. Cả năm trời trôi qua không thấy tăm hơi, bỗng một ngày đi làm về, Cường giật mình thấy anh Lâm ngồi lù lù ở góc nhà, miệng lảm nhảm.
Cường hỏi má sao không kêu anh Lâm đi tìm, bà Năm nói tỉnh queo: “Má thấy có một mình bây tỉnh, bây phải khổ thôi!”. Rửa rau, xắt thịt cũng cười.
Bữa cơm anh Lâm chuẩn bị cho bốn người dù chỉ có hai món kéo dài bốn tiếng đồng hồ. Người đàn bà chụp tay anh: “Có gì ăn không?”. Trước Tết vừa rồi, bà Năm mất chỉ sau ba ngày phát bệnh. Anh mỉm cười, gương mặt khắc khổ ánh lên tia hy vọng, trông ma lanh. Để trị bệnh cho Thủy, má kêu tôi bán hai sào đất, đưa em vào bệnh viện tâm thần.
Cường lắc đầu: “Má tôi dặn phải để họ ở nhà để được gần nhau. Chừng như Lâm thích “trò” nấu cơm lắm, anh vừa vo gạo vừa cười. Từ đó, ai thuê gì Cường cũng làm, miễn có tiền mang về để mẹ lo cho các anh em. Cường chìa cho em gái cái bánh bông lan, chị nhai ngấu nghiến… Cường vào gian nhà chính, sát bàn thờ tiên sư, trong chiếc mùng cũ nát, một người nằm co quắp.
Tấm gương chị Tuyến nhắc tới là anh Vũ Tuấn Cường. Tôi ước chi mấy ổng tỉnh lại hết”
Bà chăm chỉ, vén khéo, nên nhà cửa tiêm tất. Anh Cường âu yếm kéo võng, kêu: “Thủy nè, đưa võng nhẹ thôi”.
Người ta đồn nhà “mắc đường âm”, bà cũng cúng vái nhưng chẳng hiệu nghiệm gì. Má anh, bà Năm ở vậy, tần tảo nuôi bốn người con với nghề bán gạo. Láng giềng thấy Cường vất vả, khuyên đưa anh em vào bệnh viện thần kinh. Má dặn: “Con là người tỉnh nhất nhà, nên má nói, có khó cỡ nào, khổ cỡ nào, cũng phải ráng làm để cứu anh em”. Hơn 20 năm qua, từ lúc người em gái út, người anh cả rồi đến anh kế lần lượt phát bệnh thần kinh, anh Cường đã cùng mẹ “cõng” gia đình vượt bao khó khăn.
Người đàn ông gầy gò, đang ngồi vẽ vào đừng cái gì đó giật bắn người, rồi cười cười: “Cơm hả, chưa có nấu”. Một ngày, Đạt đang đi sửa máy gặt lúa, thốt nhiên bỏ việc. Không quậy phá như anh Đạt chị Thủy, anh Lâm rơi vào trạng thái trầm cảm nặng, không giao du được với xung quanh… Nghe lời má, Cường lại cắt đất ruộng bán, đưa anh Hai vào bệnh viện.
Vắt vẻo trên võng là một đàn bà hơn 40 tuổi, đôi mắt thất thần, vừa đưa võng, vừa tung áo lên đầu hô: “Mát, mát”. Tôi phải nhờ bốn người mới bắt trói được anh để đưa vào bệnh viện tâm thần”. Anh Cường sinh năm 1967, cha mất năm anh sáu tuổi, cô em út Thu Thủy mới lên ba.
Kể kỳ tích của anh Hai, anh Cường nói: “Tôi nghĩ hoài không hiểu sao bất chợt ổng biết giúp tôi. Mãi ba năm sau ngày Đạt mất tích, Cường mới tìm lại được anh.
Đôi bàn tay anh Lâm móp vọp vì ngâm nước cả ngày, nhưng anh vui lắm. Lúc đó, hai anh của tôi vẫn còn sáng láng, không hiểu má thấy dấu hiệu gì, mà dặn tôi như vậy…”. Thấy má tốn tiền bạc, Cường can: “Má để con đưa hai anh và em Thủy theo Tây y điều trị đi má…”.
Trước hoàn cảnh của anh trai và em gái, Cường khăn gói lên Sài Gòn tìm anh. Vừa chăm anh và em gái ở bệnh viện, Cường vừa lặn lội đi tìm anh Đạt. Rồi Đạt bỏ nhà đi đúng lúc Thủy lên cơn lần hai, phải đưa vào BV thần kinh ở Biên Hòa (Đồng Nai) điều trị. Dù kiếm ra, mỗi người cũng ngồi “một cục” ở cái góc thân thuộc: anh Đạt ở bộ ván; anh Lâm chỗ sàn nước, vọc nước suốt cả ngày; còn sát trong xó bếp là con Thủy ngồi đưa võng liên hồi… Cách đây hai năm, anh Đạt bỏ nhà đi lần nữa, vắng mấy ngày thôi, mà Thủy la làng, làm dữ lắm, anh Lâm thì buồn, bỏ cơm luôn.
Cường kể: “Không hiểu sao từ lúc bệnh tới giờ, ba người này như “ghiền” nhau lắm, vắng là đi kiếm liền. Ăn cơm xong, Lâm giành phần rửa chén và chuẩn bị tiếp bữa chiều.
HCM) tôi nhìn mãi mới nhận ra. Thủy xuất viện trước, rồi lần lượt đến anh Lâm và anh Đạt.
Rời căn nhà số 82, tổ 3, ấp Chà Là, xã thái bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, chúng tôi cứ ám ảnh mãi cảnh đời của bốn anh em và cảm phục anh Cường, người đàn ông mang tấm lòng bao la của biển.
Cường kể: “Nhìn cảnh đó, rồi nhớ lời má, tôi muốn khuỵu luôn! Má tôi chẳng nói gì, nước mắt chảy dài…”. Từ ấy, anh không tắm táp, tóc dài ra, bờm xờm, ai đụng vào là đánh. Nghi Anh Kỳ tới: tàn tật gánh cả "giang sơn".
Anh Cường nhớ lại: “Người xung quanh đồn em tôi thất tình, nhưng tôi chưa thấy em kể về ai hay dẫn ai về nhà ra mắt má… Mãi tới khi Thủy bỏ nhà đi lang thang đến ba bốn ngày, chúng tôi mới biết em bị bệnh. Còn ông Đạt nữa, từ lúc má mất tới giờ, ổng hiền dễ sợ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét