Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Sử dụng thuốc bôi ngoài da thế nào cho hạp?.

Tả của teo da bao gồm các vết bầm tím, da trở thành bóng và có các khía

Sử dụng thuốc bôi ngoài da thế nào cho phù hợp?

Một số bệnh lý ngoài da khác như u lympho thể da, Lupus ban đỏ, vảy nến, Liken phẳng.

Viêm da xúc tiếp là tác dụng phụ thường gặp với các loại mỡ chứa polymyxin, bacitracin và neomycin, do đó nên tránh sử dụng các loại thuốc này nếu có thuốc thay thế thích hợp. Biến chứng này thường xảy ra sớm với các loại corticoid tác dụng mạnh như clobetasol propionate, fluocinolone acetonide.

Kháng sinh   mặc dầu có tới hàng trăm chế phẩm kháng sinh khác nhau đã được bào chế và đưa vào dùng nhưng rất ít trong số thuốc này có thể dùng được ngoài da. Da mặt, nếp gấp và các vùng da mỏng thường bị teo da nhanh nhất trong khi lòng bàn tay, bàn chân thường teo da chậm hơn.

Corticoid   Các loại corticoid bôi tại chỗ bắt đầu được dùng trong thực tiễn từ năm 1960, chính yếu trong điều trị các bệnh lý ngoài da do viêm như chàm cơ địa, viêm da dầu, viêm da xúc tiếp, tổ đỉa.

Thí dụ, trong trường hợp nấm da, các chế phẩm có chứa corticoid sẽ làm nặng bệnh và giảm hiệu quả của thuốc chống nấm. Mặc dù cơ chế của bệnh còn chưa được biết rõ nhưng việc dùng các thuốc chống nấm bôi như ketoconazole và ciclopirox olamine giúp giảm rõ rệt tình trạng viêm và đóng vảy.

Tỉ dụ như nystatin và miconazole đặc tên hiệu quả trong điều trị các trường hợp nhiễm nấm men (như Candida) nhưng không tác dụng đối với nấm sợi. Các biệt dược khác nhau của cùng một hoạt chất với cùng một hàm lượng cũng có thể có hiệu quả điều trị và nguy cơ gây tác dụng phụ không giống nhau.

Nói chung, nên hạn chế tối đa việc dùng các thuốc này trong thực tại, vì trong nhiều trường hợp, các thành phần trong thuốc có thể cản trở hiệu quả của nhau. Nói chung, ở trẻ mỏ nên tuyển lựa các loại thuốc bôi có cường độ tác dụng yếu như hydrocortisone, clobetasone butyrate.

Các bệnh lý có tổn thương da ở nông trên bề mặt như vảy nến, chàm cơ địa thường đáp ứng tốt với các loại corticoid bôi tác dụng trung bình. Một số bệnh lý có tổn thương viêm da ở quá sâu như sarcoidosis thường không đáp ứng với corticoid bôi tại chỗ do tác dụng phụ của thuốc thường đến trước khi tác dụng chính xuất hiện. Việc tuyển lựa corticoid bôi cần cân đối giữa hiệu quả điều trị với nguy cơ tác dụng phụ.

Cũng có đáp ứng tốt với các thuốc này. Tác dụng phụ của corticoid bôi phụ thuộc chủ yếu vào cường độ tác dụng và thời kì sử dụng của thuốc.

Dùng phối hợp thuốc bôi với thuốc toàn thân hoặc tiếp xúc nhiều với ánh nắng sau thoa thuốc cũng làm tăng nguy cơ teo da.

ThS. Tác dụng phụ nguy hiểm nhất của corticoid bôi tại chỗ là gây teo da. Một số trường hợp dị ứng nặng như hội chứng Stevens - Johnson và Lyell do các loại kháng sinh bôi tại chỗ cũng đã được ghi nhận. Cần lưu ý, trong các trường hợp nấm da đầu và nấm móng, thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường không đủ tác dụng mà phải kết hợp thêm đường uống.

Cần thận trọng với thuốc bôi ngoài da. Các thuốc bôi kết hợp   giờ trên thị trường có khá nhiều loại thuốc bôi phối hợp với thành phần cốt bao gồm một loại corticoid, một loại kháng sinh và một loại thuốc chống nấm. Mỡ erythromycin và clindamycin thường được dùng trong điều trị trứng cá mủ và viêm nang lông, trong khi đó, các loại mỡ mupirocin, polymyxin, bacitracin và neomycin thường được dùng trong điều trị các nhiễm khuẩn ngoài da như bệnh chốc.

Thuốc clotrimazole và ketoconazole có phổ tác dụng khá rộng với các loại nấm so với 2 loại thuốc trên nhưng kém hơn so với các chế phẩm mới như terbinafine, ciclopirox olamine và butenafine. Bên cạnh các chỉ định trên, thuốc chống nấm bôi tại chỗ còn được chỉ định trong điều trị viêm da dầu. Nguyễn Vân Anh. Một số điều cần lưu ý trong việc chọn lọc corticoid bôi:   Do corticoid bôi tại chỗ có nhiều nguy cơ gây tác dụng phụ nên cần chẩn đoán xác định xác thực bệnh trước khi đưa ra quyết định dùng các thuốc này.

Trong khi đó, tác dụng điều trị của các thuốc này tỷ lệ thuận với nguy cơ gây tác dụng phụ của thuốc. Ngoại giả, các loại tác dụng mạnh nếu dùng kéo dài hoặc trên diện rộng cũng có thể gây ức chế tuyến thượng thận. Nếu có trợt loét do bội nhiễm vi khuẩn cần kết hợp với kháng sinh. Các tác dụng khác thường gặp do corticoid bôi tại chỗ bao gồm rối loạn sắc tố da, rậm lông, nổi mụn trứng cá, làm chậm liền vết thương.

Điều trị các bệnh như Liken phẳng, Lupus ban đỏ ngoài da thường đòi hỏi các loại corticoid bôi tác dụng mạnh, do các bệnh lý này thường có thương tổn viêm ở các lớp sâu của da. Hiệu quả của các thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường đạt được sau dùng thuốc ít ra 2 tuần, trừ trường hợp lang ben và hắc lào có thể thu được hiệu quả sau vài ngày. Nhưng cũng có thể gặp với các loại tác dụng yếu nếu dùng kéo dài và liên tục.

Mỡ kháng sinh cũng có tác dụng tốt trong phòng ngừa nhiễm khuẩn các vết thương ngoài da. Ngoài ra, việc tăng hàm lượng của một hoạt chất corticoid trong thuốc bôi không làm tăng đáng kể hiệu quả điều trị của thuốc, thí dụ, tác dụng chống viêm của mỡ triamcinolone 0,1% không lớn hơn đáng kể so với mỡ triamcinolone 0,025%. Thuốc chống nấm  hiện giờ, rất nhiều loại thuốc chống nấm bôi ngoài da có sẵn trên thị trường nhưng hiệu quả và cách dùng của chúng không hoàn toàn giống nhau.

Trẻ mỏ có nguy cơ teo da cao. Corticoid dùng kéo dài tại các vùng da quanh mắt còn có thể gây ra hoặc làm nặng bệnh đục thủy tinh thể và thiên đầu thống. Nấm kẽ và nấm bàn chân ở các vận cổ vũ điền kinh thường gây ra do độ ẩm tại chỗ quá cao, do đó, việc điều trị phải kết hợp giữa thuốc chống nấm với các biện pháp chống ẩm tại chỗ.

Các thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường được dùng trong điều trị các trường hợp nhiễm nấm nông như lang ben, hắc lào, hăm kẽ, nấm móng, nấm da đầu. Trong một số ít trường hợp, corticoid bôi tại chỗ còn có thể gây ra viêm da xúc tiếp, mặc dầu các thuốc này có tác dụng chống dị ứng rất mạnh. Trong các trường hợp viêm da mãn tính ở bàn tay (như trong bệnh như vảy nến, chàm cơ địa), nên chọn lựa các loại corticoid bôi tác dụng mạnh và dùng trong một thời kì ngắn để hạn chế nguy cơ teo da lòng bàn tay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét